0931.444.417

Danh sách người ứng cử là gì?.

DÂN SỰ Tác giả: Luật sư Trịnh Văn Long

1. Danh sách các ứng cử viên là gì? 

Danh sách ứng cử viên là tập hợp các ứng cử viên để cử tri bỏ phiếu cho các chức danh được đề xuất. Danh sách những người ứng cử theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2014 (Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2014) bao gồm danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội và danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. 

 

2. Ứng cử viên được bầu cử theo Luật Bầu cử Quốc hội 2014

 Để ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, người ứng cử phải có các điều kiện sau đây: – Tuổi ứng cử viên theo Điều 2 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội 2014: Vào ngày công bố bầu cử, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử, đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân. các cấp theo quy định của luật này. – Đáp ứng các tiêu chuẩn của người ứng cử theo quy định tại Điều 3 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội năm 2014: “Đầu tiên. Người ứng cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội được quy định trong luật tổ chức Quốc hội. 2. Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương.”

 3. Quy định về Danh sách những người ứng cử theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội năm 2014 

3.1. Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội (Điều 57 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội 2014) – Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Cơ quan Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia lần thứ ba biên bản hiệp thương và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử. của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra mắt người ứng cử đại biểu Quốc hội. – Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Cơ quan Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh gửi đến Ủy ban bầu cử cấp tỉnh biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương. – Căn cứ danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chuyển đến, Hội đồng bầu cử quốc gia chuyển danh sách đến Ủy ban bầu cử cấp tỉnh và hồ sơ của những người ứng cử ở địa phương. – Hội đồng bầu cử quốc gia lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội của từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách do Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Quốc hội chuẩn bị. ở tỉnh gửi chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử. – Danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ, chức vụ, nơi công tác. các ứng cử viên. Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo đơn vị bầu cử được xếp theo thứ tự chữ cái A, B, C… Người ứng cử đại biểu Quốc hội chỉ được ghi tên vào danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội ở một đơn vị bầu cử. – Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó ít nhất là hai người. Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định. – Chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương mình theo quyết định, của Hội đồng bầu cử quốc gia. 

3.2. Danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 58 Luật bầu cử ĐBQHandĐBHĐNĐ 2014) – Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh phải gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp; Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã phải gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp. – Chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử phải lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử. Danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 57 của Luật này. – Số người được ghi tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử đó; nếu đơn vị bầu cử có ba đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ít nhất là hai người; nếu khu vực bầu cử được bầu từ bốn đại biểu trở lên thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ít nhất là ba người. Hội đồng bầu cử quốc gia tư vấn trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng. 

3.3. Hiển thị danh sách những người ứng cử (điều 59 luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu quốc hội 2014) Chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử, tổ bầu cử phải niêm yết danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tại khu vực bỏ phiếu.

 3.4. Xóa tên người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân Căn cứ Điều 60 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội năm 2014 “Đầu tiên. Người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội đã được Hội đồng bầu cử quốc gia công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố bị can, bị bắt, giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, chết hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Hội đồng bầu cử quốc gia xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội. 

  1. Người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đã được Ủy ban bầu cử công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố bị can, bị bắt, giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, chết hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Ủy ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, quyết định xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.” 

3.5. Khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử (Điều 61 Luật bầu cử ĐBQHandĐBHĐNĐ 2014) – Công dân có quyền tố cáo về người ứng cử, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử. Việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị được thực hiện như sau: Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Quốc hội, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Hội đồng bầu cử quốc gia. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng bầu cử quốc gia. Quyết định của Hội đồng bầu cử quốc gia là quyết định cuối cùng; Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp nào thì được gửi tới Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng. Quyết định của Ủy ban bầu cử là quyết định, cuối cùng; Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị nhận được theo thẩm quyền. – Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử ngừng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội đồng bầu cử quốc gia (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội) hoặc Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) quyết định xóa tên người đó trong danh sách chính thức những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết. – Không xem xét, giải quyết tố cáo không ghi rõ họ, tên người tố cáo hoặc mạo danh người khác để bịa đặt thông tin. – Ủy ban bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, Ủy ban bầu cử cấp huyện, Ủy ban bầu cử thành phố chuyển các khiếu nại, tố cáo chưa giải quyết đến Ủy ban thường vụ Quốc hội (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội). ) hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ mới ở cấp tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) để tiếp tục xem xét, quyết định theo thẩm quyền. 

4. Nguyên tắc xác định trúng cử 

– Kết quả bầu cử được tính trên cơ sở số phiếu bầu hợp lệ và chỉ được công nhận khi có quá nửa tổng số cử tri ghi tên trong danh sách cử tri của khu vực bầu cử tham gia bầu cử, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 của bài báo này. khoản 4 điều 80 của luật này. – Người trúng cử phải là ứng cử viên được quá nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ. – Trong trường hợp số ứng cử viên được quá nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ nhiều hơn số đại biểu do đơn vị bầu cử bầu ra thì người trúng cử là người có số phiếu bầu cao nhất. – Trường hợp đến cuối danh sách những người trúng cử có nhiều người nhận được số phiếu bầu bằng nhau và nhiều hơn số lượng đại biểu trúng cử đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì người cao tuổi nhất là người trúng cử.

 5. Công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử 

– Hội đồng bầu cử quốc gia căn cứ vào biên bản cuộc tổng tuyển cử trong cả nước, công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày bầu cử. – Căn cứ vào biên bản tổng tuyển cử, Uỷ ban bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày bầu cử.

Bài viết liên quan