Đánh giá các yếu tố rủi ro gây tham nhũng trong quản lý đất đai.
Đánh giá các yếu tố rủi ro gây tham nhũng trong quản lý đất đai
1. Tham nhũng là gì?
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.Trong đó:– Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm:+ Cán bộ, công chức, viên chức;+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;+ Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;+ Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức;+ Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.– Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng.
2. Những điểm mới của Đại hội XIII về kiểm soát quyền lực
Kiểm soát quyền lực được Đảng ghi nhận từ rất sớm. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Trên nền tảng Cương lĩnh, Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật khác đã thể chế hóa việc kiểm soát quyền lực nhà nước, đến nay, cơ chế này ngày càng được hoàn thiện. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhận định: “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rõ hơn và có nhiều chuyển biến tích cực”.
Có thể chỉ ra một số điểm mới về công tác kiểm soát quyền lực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng như sau:
Thứ nhất, về hoạt động kiểm soát quyền lực của một số chủ thể
Đại hội XIII nhấn mạnh, hoạt động kiểm soát quyền lực đến từ Đảng Cộng sản Việt Nam. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đánh giá: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực”. Một điểm mới quan trọng được chỉ ra là hệ quan điểm chỉ đạo của Đảng, Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ “kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Trong đó, nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng là tập trung dân chủ, liên quan đến kiểm soát quyền lực, tập trung dân chủ đảm bảo cho Đảng đưa ra các quyết định về quyền lực một cách đúng đắn; phát huy được trí tuệ của tập thể trong phân cấp, phân quyền; bảo đảm tính kỷ luật tự giác của mỗi tổ chức đảng và đảng viên trong thực thi quyền lực. Nhìn chung, hệ quan điểm chỉ đạo khẳng định cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng, đảm bảo vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng.
Nhân dân là chủ thể kiểm soát quyền lực quan trọng. Việc Nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước là sự thể hiện cụ thể của chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được nêu ra từ Đại hội V của Đảng. Tại Đại hội XIII, nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, Đại hội đề ra phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Điểm mới được Đại hội đề cập đến nằm ở “dân giám sát” và “dân thụ hưởng”; trong đó, “dân giám sát” thể hiện việc kiểm soát quyền lực của Nhân dân thông qua hình thức giám sát. Như vậy, có thể thấy Đại hội XIII đã bổ sung thêm cơ sở chính trị quan trọng về kiểm soát quyền lực của Nhân dân đối với các cơ quan công quyền. Cơ sở này rất quan trọng để thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của Nhân dân nhằm “thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở”(5) và thể chế hóa thành các văn bản pháp luật cụ thể sau này.
Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, hoạt động kiểm soát quyền lực đối với các cơ quan thực thi quyền lực chủ yếu qua hai phương thức giám sát và phản biện. Đại hội XIII đặt ra yêu cầu “đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội theo phương châm hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội”. Trong đó, Văn kiện Đại hội nhấn mạnh phải gắn các vai trò này với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng: “Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng” và yêu cầu xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội các cấp.
Thứ hai, về phương thức, cơ chế tiến hành kiểm soát quyền lực
Điểm mới của Đại hội XIII về kiểm soát quyền lực nhấn mạnh phương thức kiểm soát quyền lực bằng hình thức giám sát của Nhân dân. Để bổ sung “dân giám sát, dân thụ hưởng” vào Văn kiện Đại hội XIII của Đảng là một quá trình phát triển tư duy lý luận với hơn 35 năm đổi mới đất nước; chính thực tiễn cuộc sống cũng như đòi hỏi chính đáng của Nhân dân là cơ sở để bổ sung yếu tố này.
Một điểm mới về nhận thức của Đảng ta được nêu ra tại Đại hội XIII là phải tăng cường và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các thiết chế trong kiểm soát quyền lực, Đại hội chỉ rõ phải “xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”. Từ đó Đại hội đặt ra yêu cầu: “Tăng cường phối hợp giữa giám sát, kiểm tra của Đảng với giám sát, thanh tra của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả”.
Đại hội XIII nhấn mạnh tính nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Văn kiện chỉ rõ: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội làm nòng cốt để Nhân dân làm chủ”. Mặt trận Tổ quốc là một trong những thành tố quan trọng trong mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trên cơ sở đó, Đại hội XIII nêu cao vai trò kiểm soát quyền lực thông qua giám sát và phản biện của Mặt trận trong việc thực hiện thắng lợi phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 05 năm 2021-2025. Đồng thời, một điểm mới quan trọng mà Đại hội nhấn mạnh về phương thức hoạt động của Mặt trận đó là phải “hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư” bởi việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội được Đại hội XIII đánh giá là có mặt chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới và chưa thật sâu sát các tầng lớp Nhân dân.
3. Quan điểm Đại hội XIII về kiểm soát quyền lực nhằm phòng, chống tham nhũng
Phòng, chống tham nhũng có vai trò vô cùng quan trọng đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Trong phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội 05 năm (2021-2025), điểm mới mà Đại hội XIII nhấn mạnh đó là nhiều chủ trương và giải pháp căn cơ quyết liệt về phòng, chống tham nhũng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật và thực hiện quyết liệt nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Trong đó, Đảng thể hiện sự kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng với nguyên tắc tích cực phòng ngừa đi liền với chủ động tấn công.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII cũng đề ra chủ trương về phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị, thực hiện giám sát các cơ quan thực thi quyền lực nhằm phòng, chống tham nhũng, trong đó, chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động và phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị xã hội, Nhân dân, doanh nghiệp, báo chí trong phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Về phòng ngừa tham nhũng, Đại hội đặt yêu cầu khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng. Đồng thời, nhấn mạnh cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí và nâng cao việc kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng: “Nâng cao hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, làm tốt chức năng hỗ trợ, thúc đẩy phát triển. Không hình sự hoá các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự”.
4. Đánh giá các yếu tố rủi ro gây tham nhũng trong quản lý đất đai
Tăng cường vai trò giám sát, phản biện của nhân dân
Được sự trợ giúp của các tổ chức phát triển quốc tế, hệ thống pháp luật nước ta đã có tiếp thu khá đầy đủ nội dung về quản trị tốt và đưa vào các quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với Luật Đất đai 2013, Chương trình hậu WTO hỗ trợ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới đã giúp hình thành nội dung Điều 199 và Điều 200. Đối với việc thực hiện các thủ tục hành chính, Tổ chức Oxfam đã giúp Văn phòng Chính phủ xây dựng Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, trong đó thể hiện đầy đủ các quy định về quản trị tốt.
“Rất tiếc là các quy định về quản trị đất đai đã được đưa vào hệ thống luật pháp nhưng gần như vẫn chỉ nằm trên giấy, không được thực thi trên thực tế. Chính vì lý do này mà việc thực thi pháp luật không đúng luôn hướng theo hành vi tham nhũng, gây thất thoát công sản và mất cán bộ. Giải pháp ở đây là cần thực hiện tốt các quy định pháp luật về quản trị đất đai. Hơn nữa, có thể bổ sung chế tài đối với các cơ quan nhà nước không thực hiện các quy định về quản trị đất đai”, ông Đặng Hùng Võ nói.
Ông Võ nhắc lại: “Luật Đất đai 2003 công nhận đất đai có giá cả do nhà nước quy định nhưng phải phù hợp giá cả thị trường trong điều kiện bình thường. Trên thực tế, khung giá đất của Chính phủ và bảng giá đất của UBND cấp tỉnh vẫn chỉ bằng 25% tới 30% giá cả thị trường. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tham nhũng về đất đai trong giai đoạn này”.
Luật Đất đai 2003 có quy định phương thức đấu giá đất nhưng chỉ được phép thực hiện đối với đất đã giải phóng mặt bằng. Đối với đất chưa giải phóng mặt bằng thì vẫn giao cho nhà đầu tư được chỉ định gắn với việc xác định giá đất theo bảng giá đất của UBND cấp tỉnh.
Câu chuyện về phòng, chống tham nhũng vẫn là phương thức kiểm soát quyền lực đối với các cơ quan nhà nước được trao thẩm quyền ban hành quyết định. Theo ông Đặng Hùng Võ, trong thể chế chính trị nhất nguyên, cơ chế kiểm soát quyền lực là xây dựng thể chế quản trị để trao quyền tham gia quản lý và giám sát cho người dân. Điều 28 của Hiến pháp 2013 đã quy định cụ thể về thể chế quản trị.
Trong lĩnh vực đất đai, để vận hành chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong cơ chế thị trường, chúng ta cũng cần có những quy định riêng mang tính đặc thù để kiểm soát quyền lực, trong đó có nhu cầu phân biệt đất đai là tài sản công và đất đai do tư nhân sử dụng và việc tách bạch thẩm quyền của cơ quan hành chính đại diện cho sở hữu toàn dân và thẩm quyền quản lý đất đai.
“Cần quan tâm sửa đổi pháp luật đất đai dựa trên việc kiện toàn các quy định về quản trị đất đai”, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT Đặng Hùng Võ nhấn mạnh.
Trên đây là một số thông tin về Đánh giá các yếu tố rủi ro gây tham nhũng trong quản lý đất đai – Công ty Zluat, mời bạn đọc thêm tham khảo và nếu có thêm những thắc mắc về bài viết này hay những vấn đề pháp lý khác về dịch vụ luật sư, tư vấn nhà đất, thành lập doanh nghiệp… hãy liên hệ với Zluat theo thông tin bên dưới để nhận được sự hỗ trợ nhanh chóng và hiệu quả từ đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý có nhiều năm kinh nghiệm từ chúng tôi. Zluat đồng hành pháp lý cùng bạn.
| ✅ Dịch vụ thành lập công ty | ⭕ Zluat cung cấp dịch vụ thành lập công ty/ thành lập doanh nghiệp trọn vẹn chuyên nghiệp đến quý khách hàng toàn quốc |
| ✅ Đăng ký giấy phép kinh doanh | ⭐ Thủ tục bắt buộc phải thực hiện để cá nhân, tổ chức được phép tiến hành hoạt động kinh doanh của mình |
| ✅ Dịch vụ ly hôn | ⭕ Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn ly hôn, chúng tôi tin tưởng rằng có thể hỗ trợ và giúp đỡ bạn |
| ✅ Dịch vụ kế toán | ⭐ Với trình độ chuyên môn rất cao về kế toán và thuế sẽ đảm bảo thực hiện báo cáo đúng quy định pháp luật |
| ✅ Dịch vụ kiểm toán | ⭕ Đảm bảo cung cấp chất lượng dịch vụ tốt và đưa ra những giải pháp cho doanh nghiệp để tối ưu hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác |
| ✅ Dịch vụ làm hộ chiếu | ⭕ Giúp bạn rút ngắn thời gian nhận hộ chiếu, hỗ trợ khách hàng các dịch vụ liên quan và cam kết bảo mật thông tin |
Bài viết liên quan
Luật sư tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp.
Thủ tục ly hôn Đơn phương chia tài sản chung và nợ chung – tại Long Mỹ, Giồng Trôm, Bến Tre
Thủ tục ly hôn với người nước ngoài Không có con chung trọn gói tại Mỹ Thắng, Mỹ Lộc, Nam Định