Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

DÂN SỰ Tác giả: Luật sư Trịnh Văn Long

Giới hạn xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự là một phạm vi, giới hạn, khuôn khổ, khung nhất định mà Tòa án sơ thẩm trong quá trình xét xử, ra quyết định sơ thẩm vụ án hình sự không thể hoặc không được vượt qua. Vậy Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự quy định như thế nào về Giới hạn của việc xét xử? Hãy cùng Zluat tìm hiểu bài viết dưới đây.


Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự

Giới hạn xét xử là gì?

Trong hoạt động xét xử nói chung, mỗi cấp xét xử đều có những chức năng, nhiệm vụ nhất định đối với từng vụ án hình sự. Ngay cả đối với vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chỉ có thể xem xét, quyết định đối với những vấn đề của vụ án trong một phạm vi nhất định nào đó theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Nghĩa là, khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tòa án chỉ được thực hiện quyền hạn của mình trong một giới hạn nhất định, nếu vượt ra ngoài giới hạn đó, mọi quyết định của Tòa án đều không có giá trị pháp lý. Vì vậy, giới hạn xét xử sơ thẩm là một vấn đề rất quan trọng, nó định ra phạm vi thực hiện quyền hạn của Tòa án khi tiến hành xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự cụ thể.

Cho đến nay, không có một văn bản pháp lý nào trong hoạt động tố tụng quy định rõ khái “giới hạn xét xử” mà chỉ liệt kê những việc mà Tòa án được làm trong từng giai đoạn tố tụng và được thể hiện dưới các thuật ngữ như “giới hạn xét xử sơ thẩm”, “phạm vi xét xử phúc thẩm”, “phạm vi giám đốc thẩm”.

Tuy nhiên, có thể hiểu, Giới hạn xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự là một phạm vi, giới hạn, khuôn khổ, khung nhất định mà Tòa án sơ thẩm trong quá trình xét xử, ra quyết định sơ thẩm vụ án hình sự không thể hoặc không được vượt qua.

Pháp luật TTHS quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát (VKS), Tòa án trong TTHS; các nguyên tắc cơ bản của TTHS; mối quan hệ giữa các giai đoạn trong TTHS; mối quan hệ giữa phạm vi xét xử sơ thẩm và giới hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm; vai trò của Tòa án trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; nhu cầu cần giải quyết những ý kiến chưa thống nhất giữa VKS và Tòa án; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.

Có thể thấy, việc quy định giới hạn xét xử trong vụ án hình sự được đặt ra nhằm mục đích đảm bảo tính định hướng cho hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử, đặc biệt, đối với Tòa án, việc xác định giới hạn xét xử còn giúp tránh tình trạng lạm quyền, vượt quyền, trái quyền gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể tham gia tố tụng. Ngoài ra, quy định này còn đảm bảo cho bị cáo và người bào chữa có thể có thể chủ động trong việc chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tranh tụng với quan điểm buộc tội từ Viện kiểm sát.

Giới hạn xét xử trong BLTTHS năm 2015

Giới hạn của việc xét xử được quy định tại Điều 298 BLTTHS 2015 như sau:

“1. Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

  1. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố.
  2. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để VKS truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”.

Theo quy định trên, có thể thấy, về giới hạn xét xử của BLTTHS năm 2015 bao gồm 03 nội dung:

Thứ nhất, Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Giới hạn xét xử trong trường hợp này là việc Tòa án xét xử những bị can, bị cáo bị VKS truy tố bằng bản Cáo trạng và Tòa án chỉ xét xử trong phạm vi bản Cáo trạng của VKS. Ngoài ra, trong quá trình xét xử tại phiên tòa, Tòa án phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm thì Tòa án cũng không được đưa người đó ra xét xử mà chỉ có thể ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự (Điều 153 BLTTHS 2015) để điều tra bổ sung theo đúng trình tự.

Như vậy, để một hành vi được đưa ra xét xử tại phiên Tòa thì luôn luôn phải đảm bảo hành vi đó đã được khởi tố, điều tra, truy tố theo đúng trình tự và đúng thẩm quyền. Nếu một hành vi chưa được điều tra, truy tố thì không thể bị Tòa án kết án mặc dù có tài liệu, chứng cứ trong vụ án cũng như kết quả thẩm vấn tại phiên tòa cho thấy hành vi đó thỏa mãn tội danh đó.

Ví dụ: Nguyễn Văn A bị truy tố về  hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn B về Tội trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa, mặc dù qua xét hỏi và tranh luận còn chứng minh được Nguyễn Văn C cùng Nguyễn Văn A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn B, thì Tòa án cũng không được kết án Nguyễn Văn C phạm Tội trộm cắp tài sản vì Viện kiểm sát không truy tố Nguyễn Văn C; Nguyễn Văn A bị Viện kiểm sát truy tố về 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần trộm cắp tài sản đều có giá trị từ trên 2.000.000 đồng trở lên. Tại phiên tòa, mặc dù qua xét hỏi và tranh luận còn chứng minh được Nguyễn Văn A còn có 01 lần khác trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng, thì Tòa án cũng chỉ được kết án Nguyễn Văn A về 5 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà không được kết án về hành vi trộm cắp mới được chứng minh tại phiên tòa.  Trong các trường hợp nêu trên, Tòa án phải căn cứ vào điểm b hoặc c khoản 1 Điều 280 BLTTHS trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Thứ hai, Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố.

Đối với trường hợp Tòa án xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật.

Điều này có nghĩa là với những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố, Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn hoặc theo khoản nhẹ hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo A về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 174 BLHS, Hội đồng xét xử cũng quyết định bị cáo phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng áp dụng khoản 1, khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 174 BLHS để xử phạt  bị cáo về tội phạm này.

Đối với trường hợp, Toà án xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Để kết tội bị cáo về một tội bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố cần so sánh tội mà Viện kiểm sát đã truy tố và tội mà Tòa án định xét xử. Theo đó:

– Tội phạm khác bằng tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với 02 tội phạm như nhau. Ví dụ: Bị cáo B bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, thì Toà án có thể xét xử bị cáo B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

– Tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với tội phạm khác nhẹ hơn so với tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố. Để xác định tội nào nhẹ hơn, tội nào nặng hơn thì cần thực hiện theo thứ tự như sau:

+ Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều luật có quy định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn.

+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội là tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân) thì tội nào, điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội ấy cao hơn là tội đó nặng hơn.

+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức hình phạt tù cao nhất đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy định mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn là tội đó nặng hơn.

+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt tù cao nhất như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn (cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn. Nếu điều luật cùng quy định các loại hình phạt như nhau, nhưng có mức cao nhất, mức khởi điểm khác nhau thì việc xác định tội nặng hơn, tội nhẹ hơn được thực hiện tương tự như đã trình bày trên đây.

+ Trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội đó nặng hơn. Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối với tội này thì hình phạt bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ sung có thể áp dụng, thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội đó nặng hơn.

Khi áp dụng Điều 298 “Giới hạn của việc xét xử” BLTTHS cần chú ý hai vấn đề:

Một là, khi Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều tội với nhiều hành vi phạm tội, thì Toà án cũng có thể xét xử bị cáo về tội nhẹ nhất trong các tội mà Viện kiểm sát truy tố hoặc về tội nhẹ hơn tất cả các tội mà Viện kiểm sát truy tố đối với tất cả các hành vi phạm tội đó.

Hai là, trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì áp dụng khoản 3 Điều 298 BLTTHS 2015

Thứ ba, Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để VKS truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó

– Việc phối hợp thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp này được thực hiện theo Điều 7, Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP như sau:

+Trường hợp phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can về tội danh khác nặng hơn thì Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung để thay đổi tội danh và kết luận điều tra về tội danh khác nặng hơn;

+ Nếu Viện kiểm sát đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can về tội danh khác nặng hơn và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện theo quy định tại Điều 156 và Điều 180 của BLTTHS;

Trên đây, Zluat đã giúp bạn tìm hiểu về Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có câu hỏi thắc mắc xin vui lòng liên hệ website của Công ty Zluat để được giải đáp nhé.

 

✅ Dịch vụ thành lập công ty ⭕ Zluat cung cấp dịch vụ thành lập công ty/ thành lập doanh nghiệp trọn vẹn chuyên nghiệp đến quý khách hàng toàn quốc
✅ Đăng ký giấy phép kinh doanh ⭐ Thủ tục bắt buộc phải thực hiện để cá nhân, tổ chức được phép tiến hành hoạt động kinh doanh của mình
✅ Dịch vụ ly hôn ⭕ Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn ly hôn, chúng tôi tin tưởng rằng có thể hỗ trợ và giúp đỡ bạn
✅ Dịch vụ kế toán ⭐ Với trình độ chuyên môn rất cao về kế toán và thuế sẽ đảm bảo thực hiện báo cáo đúng quy định pháp luật
✅ Dịch vụ kiểm toán ⭕ Đảm bảo cung cấp chất lượng dịch vụ tốt và đưa ra những giải pháp cho doanh nghiệp để tối ưu hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác
✅ Dịch vụ làm hộ chiếu ⭕ Giúp bạn rút ngắn thời gian nhận hộ chiếu, hỗ trợ khách hàng các dịch vụ liên quan và cam kết bảo mật thông tin

Bài viết liên quan