Quy định mới về đất tôn giáo trong Luật Đất đai 2024 cần lưu ý

Tác giả: Chuyên viên Phan Thị Thu Quyên

Tổng quan về quy định đất tôn giáo theo Luật Đất đai 2024

Luật Đất đai 2024 đã mang đến những thay đổi quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất đai đối với các tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc. Việc nắm bắt kịp thời các quy định này không chỉ giúp các cơ sở tự viện vận hành đúng pháp luật mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp, giảm thiểu rủi ro pháp lý. Theo khoản 1 Điều 213, đất tôn giáo được xác định bao gồm đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và các công trình tôn giáo hợp pháp khác.

Việc hiểu rõ các quy định này đóng vai trò then chốt trong thực tiễn hoạt động Phật sự. Các quy định mới không chỉ làm rõ phạm vi sử dụng mà còn thiết lập khung pháp lý chặt chẽ hơn cho các tổ chức tôn giáo trong quá trình quản lý tài sản đất đai của mình.

Trách nhiệm của người đại diện tổ chức tôn giáo

Theo khoản 4 Điều 6 Luật Đất đai 2024, người đại diện của tổ chức tôn giáo hoặc tổ chức tôn giáo trực thuộc là cá nhân chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc quản lý và sử dụng đất. Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tư cách người đại diện được xác định dựa trên Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hiến chương của Giáo hội và văn bản công nhận từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Cụ thể, đối với cấp Trung ương, người đại diện là Chủ tịch Hội đồng Trị sự; cấp tỉnh là Trưởng ban Trị sự; và tại các cơ sở tự viện, người đại diện thường là Trưởng ban Quản trị hoặc cá nhân được cơ quan Nhà nước công nhận. Người đại diện có nghĩa vụ đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích và tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.

Phân loại và thời hạn sử dụng đất tôn giáo

Luật Đất đai 2024 phân loại đất đai thành ba nhóm chính, trong đó đất tôn giáo được xếp vào nhóm đất phi nông nghiệp theo điểm G khoản 3 Điều 9. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định các nghĩa vụ và quyền lợi đi kèm. Về thời hạn sử dụng, khoản 8 Điều 171 quy định đất tôn giáo được sử dụng ổn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo duy trì hoạt động ổn định.

Nhà nước thực hiện giao đất tôn giáo không thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 213. Thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức này thuộc về Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh theo điểm B khoản 1 Điều 123. Do đó, Ủy ban Nhân dân cấp xã không có thẩm quyền trong việc giao hoặc cho thuê đất tôn giáo.

Hạn mức giao đất và điều kiện cấp Giấy chứng nhận

Luật Đất đai 2024 không áp dụng một hạn mức giao đất thống nhất trên toàn quốc. Thay vào đó, khoản 4 Điều 213 quy định Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh sẽ căn cứ vào nhu cầu thực tế và quỹ đất địa phương để quyết định hạn mức cụ thể. Điều này dẫn đến sự khác biệt về diện tích đất được giao giữa các tỉnh, thành phố khác nhau.

Để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, tổ chức tôn giáo cần đáp ứng các điều kiện tại khoản 3 Điều 145, bao gồm: được Nhà nước cho phép hoạt động, đất không có tranh chấp và không phải là đất nhận chuyển nhượng, tặng cho từ ngày 01/07/2004 trở về sau. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý đối với các cơ sở tôn giáo khi tiếp nhận đất hiến cúng.

Sử dụng đất kết hợp mục đích thương mại, dịch vụ

Một điểm mới đáng chú ý của Luật Đất đai 2024 là việc cho phép đất tôn giáo được sử dụng kết hợp với mục đích thương mại, dịch vụ theo khoản 5 Điều 213 và điểm E khoản 1 Điều 218. Tuy nhiên, việc này phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu như: không làm thay đổi loại đất, không ảnh hưởng đến mục đích chính, không gây tác động tiêu cực đến quốc phòng, an ninh và môi trường.

Các tổ chức tôn giáo cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính khi sử dụng đất kết hợp. Việc tuân thủ các điều kiện này là bắt buộc để đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động, đồng thời tránh các vi phạm về sử dụng đất sai mục đích.

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo khi được giao đất

Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất phải tuân thủ các quyền và nghĩa vụ chung tại Điều 26 và Điều 31. Đặc biệt, khoản 2 Điều 32 quy định rõ: tổ chức tôn giáo không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đây là hạn chế pháp lý quan trọng mà người quản lý cần ghi nhớ.

Trong trường hợp diện tích đất vượt hạn mức giao đất, nếu không thuộc diện được giao không thu tiền, tổ chức tôn giáo có thể được Nhà nước cho thuê đất và thu tiền thuê đất hằng năm theo khoản 3 Điều 213. Nếu đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc kinh doanh phi nông nghiệp, tổ chức có thể được cấp Giấy chứng nhận theo hình thức tương tự hộ gia đình, cá nhân.

Thu hồi đất và bồi thường

Thẩm quyền thu hồi đất tôn giáo thuộc về Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh theo khoản 1 Điều 83. Khi Nhà nước thu hồi đất, tổ chức tôn giáo được bồi thường về tài sản gắn liền với đất. Đối với bồi thường về đất, tổ chức cần đáp ứng các điều kiện tại điểm D khoản 1 Điều 95, như đã được cho phép hoạt động và không phải là đất nhận chuyển nhượng, tặng cho từ ngày 01/07/2004 trở về sau.

Hệ Thống Luật khuyến nghị các tổ chức tôn giáo và người đại diện cần chủ động nghiên cứu kỹ Luật Đất đai 2024 cùng các văn bản hướng dẫn. Việc cập nhật thông tin pháp luật chính xác sẽ giúp các cơ sở tự viện quản lý đất đai hiệu quả, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Tổ chức tôn giáo có được chuyển nhượng đất không?

Theo khoản 2 Điều 32 Luật Đất đai 2024, tổ chức tôn giáo được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Ai có thẩm quyền giao đất cho tổ chức tôn giáo?

Theo điểm B khoản 1 Điều 123 Luật Đất đai 2024, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc.

Đất tôn giáo có được dùng vào mục đích thương mại không?

Có, theo khoản 5 Điều 213 Luật Đất đai 2024, đất tôn giáo được phép sử dụng kết hợp với mục đích thương mại, dịch vụ nếu đáp ứng các điều kiện về loại đất, không ảnh hưởng đến mục đích chính và các quy định khác của pháp luật.

Bài viết liên quan