Điều 16 bộ luật Hồng Đức.

DÂN SỰ Tác giả: Luật sư Trịnh Văn Long

1. Quy định nhân đạo đối với người phạm tội 

 Điều luật đầu tiên xử lý vấn đề này là Điều 16, theo đó  người phạm tội “từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống, người tàn tật (tức là người mù, câm,  què quặt, cụt tay chân) phạm tội tiết kiệm, tài sản trở xuống thì được chuộc bằng tiền… 

 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống, và những người mắc bệnh nặng (như điên loạn, liệt tứ chi, mù cả hai mắt) phạm tội mưu phản, giết người, đều phải xử tử, trường hợp này phải báo cáo với nhà vua để  quyết định. Những người này phạm tội trộm cắp, đánh người bị thương, cũng sẽ đền tội; 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, cho dù phạm tội tử hình cũng không áp dụng hình phạt. Trong việc xử lý tội phạm, Bộ luật Hồng Đức cũng chú ý đến thời điểm thực hiện tội phạm  sao cho có lợi cho tội phạm trong quá trình áp dụng pháp luật, theo đó “khi phạm tội thì chưa già yếu. Khi già yếu mà biết tội thì xử  theo luật già thương… 

Trẻ thì phạm tội; già mà biết thì xử  theo luật ấu thơ” (điều 17).  Luật cũng cấm áp dụng việc hỏi đối với một số vụ việc, sự việc liên quan đến người làm chứng. Mục 665 quy định: “Những người đáng được xem xét giảm tội như 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống, người tàn tật  không được phép thẩm vấn. Nếu vi phạm luật này thì bị coi là cố ý buộc tội người khác. Luật quy định rằng những điều có thể giấu kín lẫn nhau, chẳng hạn như những người từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống và những người bị bệnh nặng  không được phép ép buộc họ làm chứng. A. Trong một số trường hợp, luật  cấm  đối xử bạo lực với tù nhân, chẳng hạn như trường hợp phạm nhân ốm đau, không được xét hỏi: “…Nếu tù nhân mắc bệnh ung thư mà không đợi chữa, thì người ra lệnh  xử tử. Nếu tù nhân bị bệnh  mà đánh bằng gậy hoặc roi thì phạt ba mươi quan, chết thì bị chế giễu hai mươi bốn quan…” (Điều 669).  Nếu rơi vào trường hợp phải nộp tiền  tang vật  tịch thu được, mà “nhà nghèo  không nộp được, thì  được vào tâu trình  ty, để  tâu lên vua quyết định” (điều 697). Ngoài ra, để ngăn chặn việc ngược đãi tù nhân một cách bạo lực  và bảo vệ các quyền cơ bản của họ, Điều 707  quy định: “Người phạm tội tra tấn tù nhân mà không gây thương tích thì bị pháp luật trừng phạt tội đánh người bị thương”. Trường hợp bớt xén quần áo, cơm, thức ăn của tù nhân thì căn cứ vào khoản giảm giá này mà định tội trộm cắp; hoặc  đánh đập, bớt phần gạo, tù  chết thì xử tội hoặc lưu. Cán bộ trại giam, quản giáo biết việc mà không trình báo cũng bị xử  tội như trên nhưng được giảm một bậc.”

 

 2. Quy định nhân đạo đối với người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn  

 Đối với những hộ có hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa, chính quyền địa phương phải có trách nhiệm đứng ra giúp đỡ. Điều 294 ghi: “Ở các ngõ, ngách trong kinh thành hoặc trong các thôn, xã có người ốm đau không ai chữa, nằm  dọc đường, cầu, điếm, chùa, quán thì cho phép quan huyện, xã này dựng lều để ở, chữa bệnh, săn sóc, cấp ăn cho họ. Tiếc thay người quá cố, bề trên dù chôn cất cũng không được để hài cốt lộ thiên. Nếu vi phạm lệnh này, người lãnh đạo huyện, xã sẽ bị bãi chức hoặc cách chức…”.  Một số đối tượng khác cũng cần được giúp đỡ  là “góa phụ, người góa bụa neo đơn, người tàn tật nặng, người nghèo  không người thân nương tựa, không có khả năng lao động kiếm sống, chính quyền địa phương phải cưu mang, nếu bỏ rơi sẽ bị đánh 50 roi/quý. Nếu  được cho cơm ăn áo mặc mà  ăn ít thì bị phạt theo luật thương gia ăn trộm của công.

 3. Các quy định nhân đạo, tiến bộ đối với phụ nữ và trẻ em 

 Đối với phụ nữ, quyền  của chủ thể này được đề cập chủ yếu trong hai chương “Hôn nhân gia đình” và “Tài sản” với những quy định thể hiện sự tôn trọng cá nhân và vai trò của  phụ nữ cũng như bảo vệ quyền  của họ về hương, lễ, thừa kế và  tài sản. Theo tục lệ và quy định, người vợ phải phụ thuộc vào chồng, nhưng trong Bộ luật Hồng Đức, địa vị của người vợ có sự độc lập nhất định như  có quyền có tài sản riêng, có quyền yêu cầu ly hôn trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn tại Điều 308 ghi: “Chồng ly thân 5 tháng thì vợ được thần phục địa phương, quan xã làm chứng, thì chồng  mất vợ. Nếu bạn đã có con, bạn có thể gia hạn thêm một năm nữa. Các quan đi xa không thi hành luật này. Nếu anh ta đã bỏ vợ và ngăn cản  người khác lấy vợ cũ của anh ta, anh ta sẽ bị chế nhạo. Trường hợp  ép vợ lấy vợ cũng là tội phạm, Điều 320 quy định như sau: “Sau khi chồng để tang mà vợ tự thú, nếu có ai ngoài ông bà, cha mẹ hoặc người nào khác  ép cưới thì bị bức cung và buộc phải ly hôn”. Trả vợ về cho chồng cũ…” hay “kẻ nào ức hiếp lấy con gái thường dân thì bị nhục hình, nhục nhã” (điều 338).  Khi  ly hôn, pháp luật xác định tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình  chồng; tài sản chung đều được coi là tài sản chung;  tài sản của ai thì người đó được hưởng riêng và chia  tài sản chung của hai người.  Bộ luật Hồng Đức nghiêm trị những trường hợp can thiệp vào thân thể và trinh tiết  của người phụ nữ. Ai “vi phạm sẽ bị bỏ tù hoặc chết”. Sám hối phải được trả nhiều hơn một bậc so với  tội gian dâm thông thường. Nếu bạn gây thương tích cho phụ nữ, hình phạt nặng hơn một bước so với đánh người bị thương. nếu giết người đàn bà thì tài sản của thủ phạm phải được chia cho ngôi nhà của người  chết” (điều 403); “Việc giao cấu với trẻ em gái từ 12 tuổi trở xuống, dù được trẻ đồng ý, vẫn bị coi là hiếp dâm” (điều 404).  Nếu “chồng đánh vợ bị thương thì xử như tội đánh người bị thương, tội 3 không nhẹ hơn. Nếu đánh chết thì xử như tội đánh chết 3 tội không nhẹ hơn, trợ cấp suốt đời giảm 3 phần. Cố ý giết vợ  giảm một bậc tội phạm; Nếu họ phạm tội bị chồng đánh mà chẳng may chết thì sẽ bị xử riêng. Đánh bạn tình bị thương,  gãy xương trở lên thì nhẹ hơn tội  đánh vợ hai thước…” (điều 482).  Trong trường hợp người phụ nữ có vụ án liên quan đến xử án hoặc bị kết tội thì  vẫn được bảo vệ ở mức độ nào đó, nếu “quan cai ngục, cai ngục tốt, thông dâm với phụ nữ và cô gái đã có xử án thì tội nặng hơn  tội gian dâm thông thường một bậc, nếu có sự đồng tình thì giảm 3 bậc tội cho các ngăn bổ sung này. nếu vi phạm thì không bị xử phạt” (điều 409). Đặc biệt, Điều 680 quy định: “Phụ nữ phạm tội tử hình trở xuống, nếu có thai, thì phải đợi 100 ngày sau khi sinh con mới được thi hành. Nếu anh ta không được sinh ra và bị xử tử, các quan chức nhà tù sẽ bị chế giễu trong hai mươi bốn năm và nhà tù sẽ bị trừng phạt bởi những kẻ phạm tội. Ngay cả khi anh ta được sinh ra nhưng chưa đủ 100 ngày, nếu anh ta hành quyết anh ta, các quan lại và nhà tù sẽ bị chế giễu hoặc trừng phạt. Nếu chưa ra đời mà phạm tội đánh roi, quan ngục  phạt 20 quan, giám ngục  bị đánh 80 trượng. Nếu  đánh đòn gây thương tích nặng hoặc chết người thì bị xử lý về tội “thừa thãi” (vô ý làm chết người, gây thương tích cho người)…”, nếu  là “nô tỳ thì được giảm nhẹ tội” (Điều 441).  Luật còn quy định một số vấn đề khác liên quan đến phụ nữ như nghiêm cấm “dùng thuốc phá thai để gây sẩy thai,  người xin thuốc phá thai cũng bị xử phạt. nếu có người chết vì uống thuốc thì người cho thuốc sẽ bị xử theo tội giết người” (điều 424). Đối với một số tội, mức hình phạt đối với  nữ còn nhẹ hơn nam, chẳng hạn Điều 450 quy định: “…Người lạ vào vườn  thì bị nhạo báng, nữ thì giảm một bậc”. Ngoài việc bảo vệ quyền lợi của  phụ nữ, Bộ luật Hồng Đức còn quan tâm đến  trẻ em. Điều 313  quy định: “Trẻ em mồ côi và phụ nữ  bán  không người bảo lãnh, người mua, người viết giấy tờ và người làm chứng đều bị đánh đòn theo luật định (nữ bị đánh 50 trượng, nam bị đánh 80 gậy) để đòi hoàn lại tiền  cho người mua. Những người cô đơn và túng quẫn từ 15 tuổi trở lên tự ý bán  thì được phép. Nếu ai “bắt được trẻ  lạc thì phải báo quan, nếu có người đến đón thì làm  chứng thật”., anh ta sẽ nhận  tiền cấp dưỡng (5 đơ-ni-ê mỗi tháng), trái luật không cho người ta nhận con, tội này sẽ bị xử  nhẹ hơn tội dụ dỗ” (điều 604).  

4. Quy định nhân đạo đối với một số đối tượng khác 

 Các đối tượng này bao gồm  người thiểu số, nô lệ, người làm công ăn lương, bạn cùng phòng, người thiểu năng nhận thức… như  điều 435, hình thức lôi kéo với hành vi “ăn cắp quần áo, đồ dùng của trẻ em, người điên,  người say sẽ bị phạt nặng gấp đôi”.  Theo điều 363, “việc mua nô lệ không xuất trình giấy tờ cho quan tòa mà  tự ý tấn công vào mặt nô lệ sẽ bị phạt 10 đơ-ni-ê”, trường hợp “làm bị thương người đã bị bắt làm nô lệ cho mình” sẽ bị giam giữ, phạt 50 đơ-ni-ê, ngoài ra còn phải “chịu án phí về tội vô hiệu” (điều 365). Nếu “nô lệ được đưa trở lại làm công ăn lương và được cấp giấy chứng nhận, nhưng vẫn buộc họ ở lại  với họ như những người hầu, họ sẽ bị phạt 50 roi,  một phần tư. Nô lệ luôn được trở về theo giấy chứng nhận” (điều 291).  Trong trường hợp “nô có tội, chủ không nói tiếng phổ thông mà đánh chết thì bị phạt ba phần tư. Những nô lệ này không có tội, nhưng nếu đánh chết thì bị xử tội. Giết nô ở ven đường hoặc mồ mả thì tội nặng hơn tội  một bậc. Nô phạm sai thì sai đánh roi, vô ý giết hoặc xúi giục thì tùy theo nặng nhẹ mà xử tội…” (Điều 490) Đối với các dân tộc thiểu số, người Hồng Bộ luật  Đức cũng bao gồm một số  đề cập, đặc biệt là để bảo vệ họ khỏi sự quấy rối của quan lại, chẳng hạn như việc cấm quan quân ở cửa  khi thấy “người buôn bán và người Man Liêu qua cửa xin tiền, chúng ta cười nhạo họ”. Nhà chùa sẽ đền gấp đôi tiền” (điều 71) hay “thu nạp dân Man Liêu, tự ý phá nhà  lấy gia súc, tài sản của dân thì phạm tội cướp bóc, phải bồi thường gấp đôi số tiền đã nộp” (điều 163). 95) Việc xử lý tội phạm đối với đồng bào dân tộc thiểu số cũng có những xem xét nhẹ  hơn, kể cả phong tục  của họ, ai phạm tội với  đồng bào miền Trung (đồng bằng) thì bị xét xử theo pháp luật.” Còn trường hợp “người Man Liêu cướp giết lẫn nhau thì hình phạt nhẹ hơn một bậc so với tội cướp của và giết người. Nếu hòa thuận được với nhau thì cũng được phép” (Điều 451), trường hợp “quan  Man Liêu tự ý giám sát các huyện riêng, sai người khiêng quan tài đến bắt dân hoặc uy hiếp dân thì  phạt 40 Thượng, hai tư” (Điều 164),  bắt tội phạm  thiểu số  “không giao cho quan  Man Liêu thì phạt một tư” (điều 703).  

Có thể nói, Bộ luật Hồng Đức hay Quốc triều hình luật là văn bản pháp luật đầu tiên, là đỉnh cao nhất của thành tựu pháp luật Việt Nam so với các triều đại trước  và sau này. Đánh giá cao giá trị của Bộ luật Hồng Đức, sách Lịch triều hiến chương chương chí của Phan Huy Chú viết: “Đời vua Lê, Bộ luật Hồng Đức được công bố, tuy có thay đổi đôi chút về lời văn hoặc cách sắp xếp các thể loại  theo thời kỳ, nhưng về cơ bản các điều khoản  vẫn không thay đổi. Bộ luật này nói chung là để  trị quốc, an dân”. Trong bộ sử dâng lên vua Gia Long năm Ất Hợi (1815), tướng Nguyễn Văn Thành viết: “Nước ta từ xưa đến nay có các triều đại, mỗi triều  có một bộ luật riêng. Nhìn vào Bộ luật Hồng Đức thì biết  thời đó tội phạm  được phân theo thứ bậc để dễ theo dõi, sắc lệnh rất đơn giản và rõ ràng…”. Những điều đó  đủ thấy Bộ luật Hồng Đức đã được áp dụng cho các cơ quan công quyền Việt Nam và được coi là chuẩn mực của luật cổ  nước ta qua nhiều triều đại; bên cạnh tính giai cấp, nó còn mang tính nhân đạo, tiến bộ và  dân tộc.

Bài viết liên quan